Sự đau khổ của địa ngục và tiếng chuông tỉnh thức cho người học Phật
Để thức tỉnh tâm trí đang mê mờ của chúng sanh, Đức Phật đã từ bi mô tả một cách chân thực và khốc liệt về quả báo của ác nghiệp nơi cảnh giới đọa xứ.
Thời gian của mỗi người chúng ta trong cuộc đời này vốn dĩ không còn nhiều. Đời người ngắn ngủi như giọt sương đầu ngọn cỏ, như tia chớp giữa trời không. Thế nhưng, đa phần chúng sinh vì vô minh (avijjā) che lấp, ái dục (taṇhā) buộc ràng, vẫn mãi mê chạy theo năm món dục lạc (kāmaguṇa) mà xem nhẹ nhân quả, lơ là việc thúc liễm thân tâm, để rồi vô tình gieo tạo vô số ác nghiệp (akusala-kamma) qua ba môn Thân – Khẩu – Ý.
Để thức tỉnh tâm trí đang mê mờ của chúng sanh , Đức Thế Tôn – bậc Chánh Biến Tri đã từ bi mô tả một cách chân thực và khốc liệt về quả báo của ác nghiệp nơi cảnh giới đọa xứ.
Trong Kinh Hiền Ngu (Bālapandita Sutta) thuộc Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), Đức Phật đã răn dạy các vị Tỳ-kheo (Bhikkhu) như sau:
“Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một cách đúng đắn về người ấy, phải nói rằng người ấy hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý. Cũng như muốn nói một cách đúng đắn về Địa ngục (Niraya), phải nói rằng Địa ngục hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, cho đến một ví dụ cũng không dễ gì, vì rất nhiều là sự đau khổ của Địa ngục.”
Khi ấy, một vị Tỳ-kheo đã bạch Thế Tôn xin một ví dụ để đại chúng dễ bề hình dung. Đức Phật đã đưa ra hình ảnh một tên trộm bị đức vua hình phạt bằng cách cho đâm ba trăm ngọn giáo vào ba thời: buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều. Chỉ một ngọn giáo đâm vào thân, nỗi đớn đau đã thấu tận tâm can; huống gì là ba trăm ngọn giáo đâm nát thân thể suốt một ngày trời.
Thế nhưng, Đức Thế Tôn đã lượm lên một hòn đá nhỏ to bằng bàn tay và hỏi các vị Tỳ-kheo xem hòn đá này hay núi Tuyết Sơn (Himālaya) - vua các loài núi lớn hơn. Khi các vị Tỳ-kheo bạch rằng hòn đá nhỏ không thể nào so sánh được với vua các loài núi, Đức Phật liền khẳng định:
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy bị đâm bởi ba trăm ngọn giáo, do nhân duyên ấy cảm thọ khổ ưu. Khổ ưu ấy so sánh với khổ ưu ở Địa ngục (Niraya) không đáng kể gì, không bằng một phần ngàn vạn lần, không thể so sánh được.”
Nỗi đau đớn khủng khiếp nhất ở thế gian này vẫn chưa bằng một phần triệu của sự thống khổ nơi địa ngục. Đức Phật miêu tả tiếp về những cực hình mà chúng sinh chịu tội phải trải qua do ác nghiệp dẫn dắt. Các ngục tối bắt người tội chịu hình phạt gọi là năm cọc (pañcavidthabandhana): đâm các cọc sắt nung đỏ qua hai tay, hai chân và ngay giữa ngực. Họ bị đẽo gọt bằng rìu, bị bào gọt bằng dao sắc, bị cột vào xe kéo chạy tới chạy lui trên nền đất nung đỏ cháy rực, rồi lại phải leo lên leo xuống những ngọn núi đầy than hồng.
“Rồi này các Tỷ-kheo, các người giữ Địa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỷ-kheo, những người giữ Địa ngục quăng người ấy vào Đại địa ngục (Mahāniraya). Này các Tỷ-kheo, Đại địa ngục ấy, có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau; xung quanh có tường sắt; mái sắt lợp lên trên. Nền Địa ngục bằng sắt nung đỏ, cháy đỏ rực; đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.
Này các Tỷ-kheo, với rất nhiều pháp môn, Ta nói về Địa ngục, nhưng thật khó nói cho được đầy đủ, này các Tỷ-kheo, vì đau khổ ở Địa ngục quá nhiều.”
Hiểu như thế nào về cảnh giới địa ngục trong kinh điển Phật giáo?
Ảnh minh họa. Kính thưa quý vị,
Địa ngục không phải do một đấng thần linh nào tạo ra để trừng phạt, mà chính là sự biến hiện trần trụi khốc liệt từ tâm Tham (lobha), tâm Sân (dosa), tâm Si (moha) và những ác hành bất thiện của chính mỗi người. Nếu như trên đời này không có định luật Nhân quả, không có sự xoay vần của vòng luân hồi (saṃsāra) vô định, thì Đức Bồ-tát (Bodhisatta) ngày xưa đâu cần phải từ bỏ hoàng cung để dấn thân vào con đường xuất gia viễn ly, rồi trải qua sáu năm khổ hạnh miên mật để tiến đến quả vị Chánh Đẳng Giác (Sammā-sambodhi)? Và bản thân sư cũng đâu cần phải chọn đời sống xuất gia tu học tịch mịch để làm gì!
Người xuất gia là vì hiểu rõ nhân quả, thấu suốt định luật nghiệp báo, cho nên mới cắt ái ly gia, khép mình trong giới luật tinh nghiêm. Sư tuyên thuyết điều này không phải để hù dọa ai, mà muốn cảnh tỉnh cho mọi người trực nhận rằng Giáo pháp của Đức Thế Tôn (Buddhasāsana) hằng thực tế hiện tiền như vậy. Phải có nhân quả rạch ròi, phải có từng bước thực hành hành trì, phải có sự nhận diện Danh - Sắc thông qua việc an trú Chánh niệm (sati) và Tỉnh giác (sampajañña). Để bước đến đạo quả giải thoát không phải là điều dễ dàng, mà cần phải có một sự dấn thân tinh tấn (viriya) không ngừng nghỉ trong từng sát-na hiện tại.
Bởi lẽ, khi hơi thở này dừng lại, tài sản, danh vọng hay người thân đều phải bỏ lại sau lưng; duy chỉ có nghiệp là tài sản duy nhất đi theo chúng ta như bóng không rời hình.
Do đó, bậc trí giả là người biết sợ hãi tội lỗi, dù là nhỏ nhất. Hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác, tinh tấn thực hành thiện pháp ngay từ bây giờ:
Giữ gìn ngũ giới trang nghiêm để bảo hộ thân tâm không rơi vào đọa xứ;
Thực hành hạnh bố thí, trì giới, tiến tu thiền định bao gồm cả Thiền chỉ (samatha) và Thiền quán (vipassanā) để thanh lọc cấu uế của tâm. Thường xuyên quán chiếu về sự chết và nghiệp báo để không buông lung phóng dật, trôi dạt theo dòng đời lạc lối.
Nguyện cho ngọn đèn Chánh pháp luôn soi sáng tâm thức quý vị. Nguyện cho toàn thể đại chúng luôn tỉnh giác, an lạc trong Giáo pháp của Đức Thế Tôn , xa lìa các ác nghiệp, thành tựu các thiện pháp, hướng đến đạo quả Niết-bàn, giải thoát khỏi mọi khổ đau sinh tử.











